Loading...

Nghiên cứu FAST III

FAST III: Phương pháp vFFR xâm lấn tối thiểu mới không thua kém FFR trong tái thông mạch vành 29 tháng 3 năm 2026
/img/news/full_timmachcanthiep_nghien-cuu-fast-iii-2026410182658.jpeg

FAST III: Phương pháp vFFR xâm lấn tối thiểu mới không thua kém FFR trong tái thông mạch vành

29 tháng 3 năm 2026

Tin tức ACC 2026

Tái thông mạch vành được hướng dẫn bằng chỉ số dự trữ lưu lượng mạch (vFFR) không thua kém so với phương pháp tái thông mạch vành được hướng dẫn bằng chỉ số dự trữ lưu lượng mạch (FFR) dựa trên dây dẫn áp lực ở bệnh nhân có tổn thương động mạch vành mức độ trung bình, theo kết quả từ thử nghiệm FAST III được trình bày trong phiên Thử nghiệm lâm sàng đột phá tại ACC.26 ở New Orleans và đồng thời được công bố trên NEJM.

vFFR là một kỹ thuật mới sử dụng chụp mạch vành định lượng 3D, không cần dây dẫn áp lực hoặc chất gây tăng lưu lượng máu.

Trên 37 địa điểm tại bảy quốc gia châu Âu, thử nghiệm nhãn mở do các nhà nghiên cứu khởi xướng đã phân ngẫu nhiên 2.211 bệnh nhân mắc hội chứng mạch vành cấp tính (19%) hoặc mãn tính (81%) và tổn thương mạch vành mức độ trung bình (hẹp đường kính 30-80%) vào hai nhóm: tái thông mạch vành có hướng dẫn bằng vFFR (n=1.116) hoặc tái thông mạch vành có hướng dẫn bằng FFR (n=1.095).

Các bệnh nhân có độ tuổi trung bình là 67 và 24% là nữ; 27% mắc bệnh tiểu đường, 72% tăng huyết áp, 71% rối loạn lipid máu, 23% từng bị nhồi máu cơ tim (MI) và 35% từng được tái thông mạch vành.

Trong nhóm vFFR và FFR, số lượng tổn thương trung bình lần lượt là 1,27 và 1,28; đánh giá sinh lý hoàn chỉnh thành công ở 97% và 99%; tái thông mạch vành được thực hiện ở 45% và 36% bệnh nhân.

Kết quả sau một năm cho thấy 7,5% bệnh nhân ở cả hai nhóm đều gặp phải biến cố chính, bao gồm tử vong do mọi nguyên nhân, nhồi máu cơ tim hoặc tái thông mạch. Sự khác biệt về nguy cơ là -0,02 điểm phần trăm, nằm trong giới hạn không thua kém là 3,0 điểm phần trăm (p=0,004).

Xem xét biến cố phụ quan trọng là suy mạch máu được kiểm tra bằng vFFR hoặc FFR, bao gồm tử vong do tim mạch, nhồi máu cơ tim hoặc tái thông mạch, tỷ lệ mắc bệnh tương tự nhau (4% ở nhóm vFFR và 4,6% ở nhóm FFR).

vFFR xác định được tỷ lệ tổn thương có ý nghĩa chức năng cao hơn, điều mà các nhà nghiên cứu đánh dấu là lĩnh vực cần nghiên cứu thêm trong tương lai. Phương pháp này có thời gian thực hiện thủ thuật ngắn hơn so với FFR (55,8 phút so với 60,9 phút), không cần sử dụng dây dẫn áp lực và adenosine, và có ít biến chứng trong quá trình thực hiện thủ thuật hơn (3,7% so với 6,0%). Các biến cố bất lợi tương tự nhau giữa hai nhóm.

Những hạn chế của thử nghiệm bao gồm thiết kế mở, tỷ lệ bệnh nhân mắc hội chứng mạch vành cấp tính thấp, thiếu kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu về vFFR so với FFR, và chỉ bao gồm bệnh nhân người châu Âu.

"Phương pháp mới của chúng tôi cho kết quả rất tương đồng sau một năm so với phương pháp điều trị tiêu chuẩn," Tiến sĩ Joost Daemen, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết. "Chúng tôi cũng đã chứng minh rằng kỹ thuật này có thể dễ dàng được đưa vào thực hành lâm sàng thường quy."

Trong bài bình luận kèm theo, Tiến sĩ Yiannis S. Chatzizisis, FACC, lưu ý về những khó khăn, chi phí và sự phức tạp của phương pháp FFR truyền thống dựa trên dây dẫn, và gọi thử nghiệm FAST III là "một bước quan trọng hướng tới tiêu chuẩn điều trị mới."

Ông nói thêm, "Trong thời đại thống trị bởi trí tuệ nhân tạo, thử nghiệm này cung cấp sự hỗ trợ có ý nghĩa cho một chiến lược ít xâm lấn hơn, dựa trên sinh lý học, có thể đơn giản hóa việc ra quyết định trong điều trị phần lớn bệnh nhân mắc tổn thương mạch vành trung gian ổn định hoặc không ổn định."


Ts Ngô Minh Hùng sưu tầm

Tin liên quan View more